Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng được quy định tại Điều 186 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) như sau:
Điều 186. Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng
Người nào có nghĩa vụ cấp dưỡng và có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật mà từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của Bộ luật này, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
1. Chủ thể của tội phạm
Chủ thể của tội phạm này là người có năng lực trách nhiệm hình sự và phải thỏa mãn đồng thời 02 điều kiện sau:
(1) Là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật;
(2) Là người có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
2. Khách thể của tội phạm
Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng trực tiếp xâm hại đến nghĩa vụ cấp dưỡng theo pháp luật mà người có nghĩa vụ cấp dưỡng cố ý không thực hiện mặc dù người đó có khả năng thực tế để thực hiện nghĩa vụ đó. Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì:
– Cấp dưỡng là việc một người có nghĩa vụ đóng góp tiền hoặc tài sản khác để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của người không sống chung với mình mà có quan hệ hôn nhân, huyết thống hoặc nuôi dưỡng trong trường hợp người đó là người chưa thành niên, người đã thành niên mà không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình hoặc người gặp khó khăn, túng thiếu theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình.
– Nghĩa vụ cấp dưỡng được thực hiện giữa cha, mẹ và con; giữa anh, chị, em với nhau; giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu; giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột; giữa vợ và chồng theo quy định của Luật này.
3. Mặt khách quan của tội phạm
Thứ nhất, người phạm tội phải là người có nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình, người có nghĩa vụ cấp dưỡng bao gồm:
– Nghĩa vụ cấp dưỡng của cha, mẹ đối với con;
– Nghĩa vụ cấp dưỡng của con đối với cha, mẹ;
– Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa anh, chị, em;
– Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa ông bà nội, ông bà ngoại và cháu;
– Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa cô, dì, chú, cậu, bác ruột và cháu ruột;
– Nghĩa vụ cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn
Nghĩa vụ cấp dưỡng không thể thay thế bằng nghĩa vụ khác và không thể chuyển giao cho người khác.
Thứ hai, người phạm tội phải là người có khả năng thực tế để thực hiện việc cấp dưỡng đối với người mà mình có nghĩa vụ cấp dưỡng
Đây là trường hợp người phạm tội có thu nhập ổn định, có khả năng bảo đảm cuộc sống của gia đình với mức sống trung bình ở địa phương.
Thứ ba, người phạm tội có hành vi “trốn tránh” hoặc “từ chối” việc thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng: Là trường hợp biết rõ mình có nghĩa vụ cấp dưỡng đã tìm cách thoái thác, viện lý do khó khăn, tẩu tán tài sản hoặc bỏ trốn,… để không phải thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng.
Thứ tư, làm cho người được cấp dưỡng lâm vào tình trạng nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe
Đây là hậu quả của tội phạm, là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm.
Ngoài các dấu hiệu nói trên, Điều luật còn quy định tình tiết “đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm” cũng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm trong trường hợp chưa xảy ra hậu quả của tội phạm. Tuy nhiên, cũng cần lưu ý: Các tình tiết này cũng chỉ áp dụng nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 380 của BLHS, tức là trường hợp có điều kiện mà không chấp hành bản án hoặc quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
4. Mặt chủ quan của tội phạm
Tội phạm này được thực hiện do lỗi cố ý. Người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật, trái với đạo đức xã hội nhưng vẫn từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.
5. Hình phạt
Điều luật quy định 01 khung hình phạt: cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
6. Lưu ý
– Người có hành vi trốn tránh hoặc từ chối nghĩa vụ cấp dưỡng mà đã có bản án của Tòa án buộc người đó phải cấp dưỡng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 380 BLHS 2015 về tội không chấp hành bản án.
– Trong trường hợp người trực tiếp nuôi dưỡng nạn nhân mà không cho ăn, để phải chịu đói rét, ngược đãi,… thì có thể bj truy cứu theo Điều 185 về Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông, bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình.
Như vậy, hành vi từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng không thuộc hai trường hợp nêu trên thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng.