Bảo lĩnh là một trong những biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam được quy định tại Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Tuy nhiên, không ít trường hợp người được bảo lĩnh bỏ trốn hoặc vi phạm nghĩa vụ cam đoan, đặt ra câu hỏi: Người nhận bảo lĩnh có bị xử phạt hay không?
- Bảo lĩnh là gì?
Căn cứ theo Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn thay thế tạm giam. Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi và nhân thân của bị can, bị cáo, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho họ được bảo lĩnh.
Bảo lĩnh nhằm đảm bảo người bị buộc tội có mặt theo giấy triệu tập, không tiếp tục phạm tội, không cản trở hoạt động tố tụng.
- Điều kiện để được nhận bảo lĩnh
Để được Tòa án hoặc cơ quan tiến hành tố tụng chấp nhận bảo lĩnh, cá nhân nhận bảo lĩnh phải đáp ứng các điều kiện sau:
– Là người đủ 18 tuổi trở lên, có nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật;
– Có thu nhập ổn định, có điều kiện quản lý, giám sát người được bảo lĩnh;
– Là người thân thích của bị can, bị cáo;
– Ít nhất phải có 02 cá nhân cùng nhận bảo lĩnh;
– Phải lập giấy cam đoan, có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn nơi cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi làm việc, học tập.
– Trong giấy cam đoan, người nhận bảo lĩnh phải cam kết không để bị can, bị cáo vi phạm các nghĩa vụ quy định tại khoản 3 Điều 121 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, trong đó có nghĩa vụ không bỏ trốn.
- Người được bảo lĩnh bỏ trốn thì xử lý thế nào?
Trường hợp bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ cam đoan, bao gồm hành vi bỏ trốn, thì:
– Biện pháp bảo lĩnh sẽ bị hủy bỏ;
– Bị can, bị cáo có thể bị áp dụng biện pháp tạm giam theo quy định pháp luật.
- Người nhận bảo lĩnh có bị xử phạt không?
Theo điểm a khoản 2 Điều 17 Nghị định 282/2025/NĐ-CP, tổ chức, cá nhân nhận bảo lĩnh để bị can, bị cáo vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan có thể bị xử phạt vi phạm hành chính với mức: Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với cá nhân; Đối với tổ chức, mức phạt gấp đôi, theo quy định tại khoản 2 Điều 5 Nghị định 282/2025/NĐ-CP.
- Lưu ý
Như vậy, khi nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo, cá nhân hoặc tổ chức phải nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý của mình, bao gồm:
– Quản lý, giám sát người được bảo lĩnh;
– Đảm bảo người được bảo lĩnh chấp hành đầy đủ nghĩa vụ tố tụng, không bỏ trốn;
– Trường hợp để xảy ra vi phạm, không chỉ bị can, bị cáo bị xử lý, mà người nhận bảo lĩnh cũng có thể bị xử phạt hành chính theo quy định pháp luật.