CÁC LOẠI THỜI HẠN TRONG ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ

Trong giai đoạn Điều tra đuợc quy định tạiBộ luật Tố tụng Hình sự 2015 có năm loại thời hạn được quy định tại các Điều 172, 173, 174 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 đó là: Thời hạn điều tra, thời hạn tạm giam để điều tra, thời hạn phục hồi điều tra, điều tra bổ sung, điều tra lại. Luật Số 1 Hà Nội xin tổng hợp các loại thời hạn trong điều tra vụ án hình sự dưới đây:

1. Thời hạn điều tra (Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Thời hạn điều tra là thời gian do pháp luật quy định để cơ quan điều tra hoàn thành điều tra vụ án. Thời hạn điều tra được tính từ khi khởi tố vụ án đến ngày kết thúc điều tra.

Thời hạn điều tra vụ án hình sự không được quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng; không quá 03 tháng đối với tôi phạm nghiêm trọng; không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Nếu do tính chất phức tạp của vụ án cần phải có thêm thời gian để điều tra thì trong thời hạn 10 ngày trước khi hết hạn điều tra, cơ quan điều tra phải làm văn bản đề nghị viện trưởng viện kiểm sát gia hạn điều tra.

Việc gia hạn điều tra được thực hiện như sau:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng: có thể được gia hạn điều tra 01 lần không quá 02 tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, lần thứ nhất không quá 03 tháng và lần thứ hai không quá 02 tháng;
  • Đối với tôi phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 02 lần, mỗi lần không quá 04 tháng;
  • Đối với tội đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn điều tra 03 lần, mỗi lần không quá 04 tháng.

2. Thời hạn tạm giam để điều tra (Điều 173 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Thời hạn tạm giam để điều tra là thời hạn do pháp luật quy định được tạm giam bị can để phục vụ cho việc điều tra vụ án.

Thời hạn tạm giam bị can để điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm nghiêm trọng, không quá 04 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

Trường hợp vụ án có nhiều tình tiết phức tạp, cần phải có thời gian dài hơn cho việc điều tra và không có căn cứ thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp tạm giam thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết hạn tạm giam, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn tạm giam.

Thời hạn gia hạn tạm giam đối với từng loại tội phạm cụ thể như sau:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 01 tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không qáu 02 tháng;
  • Đối với tội phạm rất nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 01 lần không quá 03 tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có thể được gia hạn tạm giam 02 lần mỗi lần không quá 04 tháng.

3. Thời hạn phục hồi điều tra (khoản 1 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Thời hạn phục hồi điều tra là thời hạn do pháp luật quy định để tiếp tục điều tra vụ án đã được phục hồi điều tra.

Đối với những vụ án đã có quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ điều tra nhưng có lí do để hủy bỏ quyết định này thì cơ quan điều tra ra quyết định phục hồi điều tra nếu chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự. Thời hạn phục hồi điều tra không quá 02 tháng đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 03 tháng đối với tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng kể từ khi có quyết định phục hồi điều tra cho đến khi kết thúc điều tra.

Trường hợp cần gia hạn điều tra do tính chất phức tạp của vụ án, thì chậm nhất là 10 ngày trước khi hết thời hạn điều tra, cơ quan điều tra phải có văn bản đề nghị Viện kiểm sát gia hạn điều tra:

  • Đối với tội phạm ít nghiêm trọng được gia hạn điều tra 01 lần thì không quá 01 tháng;
  • Đối với tội phạm nghiêm trọng và tội phạm rất nghiêm trọng được gia hạn điều tra 01 lần không quá 02 tháng;
  • Đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được gia hạn điều tra 01 lần không quá 03 tháng;

4.Thời hạn điều tra bổ sung (khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Thời hạn điều tra bổ sung là thời hạn do pháp luật quy định để điều tra bổ sung đối với vụ án khi có yêu cầu của Viện kiểm sát hoặc Tòa án cấp sơ thẩm.

Trong trường hợp vụ án do Viện kiểm sát trả lại để điều tra bổ sung thì thời hạn điều tra bổ sung không quá 02 tháng. Nếu Viện kiểm sát quyết định truy tố nhưng Tòa án trả lại để điều tra bổ sung thì không thời hạn điều tra bổ sung không quá 01 tháng. Thời hạn được tính từ ngày cơ quan điều tra nhận lại hồ sơ vụ án và yêu cầu điều tra. Viện Kiểm sát chỉ được trả hồ sơ điều tra bổ sung tối đa 02 lần; Thẩm phán chỉ được trả lại hồ sơ 01 lần; Hội đồng xét xử chỉ được trả hồ sơ 01 lần.

5. Thời hạn điều tra lại (khoản 2 Điều 174 Bộ luật Tố tụng hình sự)

Thời hạn điều tra lại là thời hạn do pháp luật quy định để tiến hành điều tra lại vụ án theo quyết định của Hội đồng xét xử phúc thẩm, Hội đồng Giám đốc thẩm, tái thẩm. Điều tra lại được tiến hành trong những trường hợp vụ án được đưa ra xét xử nhưng tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm, hội đồng giám đốc thẩm, hội đồng tái thẩm hủy bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị để điều tra lại.

Khi điều tra lại, thời hạn và gia hạn điều tra được áp dụng theo thủ tục chung tại Điều 172 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trên đây là nội dung tư vấn của Công ty Luật Số 1 Hà Nội. Chúng tôi chuyên cung cấp dịch vụ pháp lý chuyên nghiệp, nhanh chóng cho các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước có vướng mắc các vấn đề pháp lý liên quan.

Mọi thắc mắc của Quý khách hàng xin vui lòng liên hệ theo thông tin sau:

  • Điện thoại: 024.6656.9880 – Hotline: 096.128.9933
  • Email: luatso1hanoi@gmail.com
  • Fanpage: Công ty Luật Số 1-HN
  • Địa chỉ: Tầng 5, Tòa nhà số 33 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, TP.Hà Nội